phong cách văn học
Tập huấn nghiệp vụ Phòng cháy chữa cháy năm 2020. Nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về công tác phòng cháy chữa cháy, kỹ năng thoát hiểm thoát nạn cho cán bộ, viên chức và người lao động, sáng ngày 1/12/2020, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức tập huấn về công tác PCCC cho toàn thể cán bộ, viên
Nội dung đào tạo của khóa học tin học văn phòng đầy đủ K16 sẽ như sau: 1. Nội dung đào tạo Word (10 buổi) Buổi 1. Giới thiệu chung: mục đích khóa học, cách thức học. Giới thiệu tổng quát về máy tính, phần mềm. Giới thiệu màn hình Word 2010. Thao tác với tập tin Word
- Hiểu được khái niệm phong cách văn học, biết nhận diện những biểu hiện của phong cách văn học. Kĩ năng - Nhận diện các trào lưu văn học -Thấy được những biểu hiện của phong cách văn học .3. Thái độ Quan tâm đến những vấn đề liên quan đến lí luận văn học. Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
Kiến thức các loại phong cách chức năng ngôn ngữ trong văn bản. Đọc tài liệu sưu tầm, tổng hợp các loại phong cách chức năng ngôn ngữ của lớp 12: sinh hoạt, nghệ thuật, báo chí, chính luận, hành chính, khoa học.
1. SUM - Hàm Excel phổ biến nhất. Đây là hàm Excel phổ biến nhất, dùng để tính tổng giá trị trong Excel. Có 3 cách sử dụng hàm SUM phổ biến nhất là: Tính tổng các ô bất kỳ (không liền kề nhau) chẳng hạn như ô A1, A6 và B3: =SUM (A1;A6;B3) Tính tổng các ô liền kề nhau
Bài văn mẫu nghị luận Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng trong sáng tác của những nhà văn ưu tú. IX Tuocgiochu đã từng quan niệm, cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ người nào khác. Đúng như vậy, văn học
weisconpelre1980. Gốc La Tinh “stilus” – bút viết, cách viết. Trong văn học 1 là một loại hệ thống nhất quán, có thể nhận biết, nhằm mục đích thẩm mĩ, biểu hiện gián tiếp qua hệ thống các hình thức kết cấu của lời nói trong tác phẩm các đặc điểm về mặt ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng – cú pháp trong tất cả phát ngôn của các chủ thể lời nói, cũng như chức năng phát ngôn của chúng; 2 là nguyên tắc điều tiết chung các đặc điểm phát ngôn nào đấy và hình thức kết cấu của chúng trong tác phẩm, nguyên tắc này được nhận biết trên cái nền của những hiện tượng nghệ thuật giống nhau, có thể tái tạo bằng cách bắt chước, phong cách hóa, nhân bản, hay giễu nhại. Về lí thuyết, có thể có hai định nghĩa bổ sung cho nhau về khái niệm “Phong cách” “Ở trường hợp này, phong cách được hiểu là một cái gì chung nối kết hiện tượng được xem xét với các hiện tượng khác nào đó; trong trường hợp khác, phong cách được hiểu như là sự biểu hiện của một hệ thống nhất quán nào đó, của một hình thức nội tại chung nằm trong nền móng của một phạm vi hiện tượng được khảo sát – nói cách khác, trong nền móng của một văn bản nào đó”… Ngược lại, có thể hiểu phong cách theo nghĩa khác, nó là một cái gì đó đặc biệt, tức là ở đây, những đặc điểm văn pháp có quan hệ với đặc thù của văn bản. Chính trong trường hợp này, người ta nói về phong cách của một nhà văn hay một nghệ sĩ nào đó nói riêng, hay về phong cách cá nhân nói chung trong khi đó, theo hướng tiếp cận thứ nhất, xuất phát từ các đặc điểm hệ thống trừu tượng, phong cách cá nhân này như một tổ hợp cụ thể của các đặc điểm văn pháp” Uspenski – Những vấn đề kí hiệu học phong cách dưới ánh sáng ngôn ngữ học. IV. Tartu, 1969, Cơ sở của quan niệm thứ nhất, quan niệm loại hình về Phong cách văn học có thể là trực giác được tích lũy bằng kinh nghiệm so sánh. Về quan niệm thứ hai, chỉ có thể xác định đúng đắn và chắc chắn cái đặc thù trên nền của “cái chung”, hoặc “cái được thừa nhận chung” nếu không, sẽ không rõ, chúng ta được phép xem cái gì là dấu hiệu của cá nhân. Khái niệm “Phong cách”, một mặt, có quan hệ với cấu trúc tác phẩm. Định nghĩa về nó phải trả lời câu hỏi nói về Phong cách, chúng ta chú ý những đặc điểm loại gì và cấp độ hay bình diện nào của cấu trúc ấy. Mặt khác, hệ thống các dấu hiệu của Phong cách là sự biểu hiện của một đường hướng sáng tạo thống nhất, là sự phản ánh “ý chí nghệ thuật” của tác giả-người sáng tạo. Phong cách là toàn bộ chỉnh thể hay sự “tổng thể” của tác phẩm; trong trường hợp này, sự đo lường đặc biệt dành cho chỉnh thể nằm ở sự hiển thị, ở sự biểu hiện ý hướng ấy từ bên ngoài đối với sự quan sát và lĩnh hội trực tiếp của độc giả “phong cách là sự hiện diện rõ rệt trực tiếp và sự biểu hiện chỉnh thể ấy trong từng yếu tố hợp thành của tác phẩm và trong tác phẩm hoàn chỉnh như một chỉnh thể”. Vì thế, Phong cách in đậm dấu ấn năng động của tác giả, nó là kết quả trực quan của hoạt động sáng tạo “phong cách hiện lên như là “cái khác của mình” trong tương quan với khái niệm “tác giả” và có thể xác định như là sự biểu hiện hữu hình, trực tiếp và rõ ràng nhất sự hiện hữu của tác giả trong từng yếu tố, như “dấu vết” hoạt động tạo lập và tổ chức chỉnh thể nghệ thuật của tác giả được phản ánh một cách vật chất và có thể nắm bắt được một cách sáng tạo” Girsman – Tác phẩm văn học Lí thuyết về chỉnh thể nghệ thuật. M., 2007, tr. 76, 83. Khi đối chiếu các đặc điểm của tác phẩm vẫn được xem là những dấu hiệu Phong cách với ý hướng của tác giả – người sáng tạo, tất yếu sẽ xuất hiện ba hướng tiếp cận và theo đó, sẽ nổi lên ba bình diện của vấn đề 1. Hướng tiếp cận tự nhiên nhất của độc giả với những đặc điểm vẫn được xếp vào Phong cách của tác phẩm là ấn tượng chung về một “kiểu” hay một “dạng” tác phẩm đặc biệt và độc đáo với một tác giả, một khuynh hướng, một thời đại, một nền văn hóa dân tộc. Kiểu quan hệ này của độc giả tương tự như việc chúng ta làm quen với một con người nhận thức sự độc đáo của một cá nhân cụ thể và đồng thời cố gắng xác định sự phù hợp hoặc không ăn khớp giữa cá nhân ấy với một loại người nào đấy mà chúng ta đã biết. Khi gặp lại một con người hay một Phong cách nhiều lần, ta sẽ nhận ra cái riêng biệt và sự độc đáo của Khuôn Mặt hãy nhớ lại lời thơ của Baratynski về “không có biểu hiện chung cho một gương mặt” mà dứt khoát ta sẽ so sánh với những gương mặt khác, giống, hay không giống như thế. Vinokur đã viết về tính khả tri như là phẩm chất quan trọng nhất của Phong cách trong một công trình của ông “Thí dụ, tôi đã đọc đoạn văn sau đây “Một năm, hai năm, ba năm, ừ, thì cũng được, nhưng mà lúc nào cũng dạ hội, khiêu vũ, hòa nhạc, ăn tối, những chiếc áo dài vũ hội, những kiểu tóc, những cơ thể khoe khoang nhan sắc, những tay tán gái còn trẻ và không còn trẻ, tất cả đều một giuộc, tất cả tựa như biết được một cái gì đó, tựa như có quyền sử dụng tất cả, cười cợt tất cả, khi mà năm nào cũng có mấy tháng mùa hè ở dã thự với thứ thiên nhiên chỉ mang lại cho đám người giàu có nhàn nhã cảm giác dễ chịu về đời sống như thế, khi mà lúc nào cũng âm nhạc và đọc sách, vẫn là những kẻ lúc nào cũng hoắng lên với các vấn đề đời sống, mà chẳng bao giờ giải quyết các vấn đề ấy, – khi mà tất cả những chuyện đó kéo dài tới 7, 8 năm, nó chẳng những không hứa hẹn một sự thay đổi nào cả, mà còn mất hết vẻ hấp dẫn, nàng bắt đầu thất vọng và tâm trạng thất vọng, ý muốn được chết đã tìm đến với nàng”[1]. Tôi sẽ nói chắc chắn đó là Lev Tolstoi, mặc dù tôi không biết những dòng này được trích từ tác phẩm nào của Tolstoi. Điều quan trọng, tôi nhận ra Lev Tolstoi ở đây không chỉ vì đoạn trích đã nói cái điều mà nhà văn này thường nói, không chỉ nhờ vào giọng điệu mà nhà văn vẫn thường nói về những đối tượng như thế, mà còn nhờ vào bản thân ngôn ngữ, vào những dấu hiệu cú pháp đặc biệt của nó” Vinokur – Nghiên cứu ngữvăn học. M., 1990, tr. 121. Ở đây, chỉ số nói lên Phong cách tác giả không chỉ là cú pháp khác thường, mà còn là quan hệ độc đáo với từ vựng không tuân thủ các chuẩn mực văn học “những tay tán gái”, “một giuộc” và bất chấp luật cấm sự trùng lặp những từ giống hệt nhau “nàng bắt đầu thất vọng và tâm trạng thất vọng”, tức là coi thường tất cả những gì có thể làm cho lời nói trở thành “đèm đẹp”. Trong lịch sử nghiên cứu phong cách, hướng tiếp cận vấn đề từ góc độ “diện mạo ngôn từ” được thể hiện rõ nhất trong định nghĩa tuyệt vời của G-L. Buffon “Le stile, c’est l’homme même”. Theo ý kiến của một chuyên gia hiện nay, cần phải hiểu công thức ấy không phải theo nghĩa “phong cách thế nào, thì con người thế vậy”, mà theo nghĩa “khẳng định phương thức triển khai và tổ chức tư tưởng thuộc về cá nhân người viết”, hơn nữa, phương thức ấy đảm bảo cho tác phẩm của nhà văn, như chính Buffon đã chỉ ra, tính toàn vẹn giống như tính toàn vẹn mà ta tìm thấy trong các tạo tác của tự nhiên” Podgaetskaia – Ranh giới của phong cách cá nhân//Lí thuyết phong cách văn học. Các bình diện nghiên cứu hiện đại. M., 1982, tr. 33. Định nghĩa của Sakulin được xác lập theo hướng ấy “Không thể đồng nhất Phong cách với cả hình thức nói chung, lẫn các thành tố riêng lẻ của nó. Phong cách là tổng thể các đặc điểm khiến hình thức này khác biệt với hình thức khác tương tự như nó. Chẳng hạn, hình thức cấu trúc của một ngôi đền có thể theo nhiều phong cách khác nhau Gothic, Romance, Byzantine, Moorish cách là sự độc đáo, là sự khác biệt của hình thức này với các hình thức khác tương tự như nó” Sakulin – Ngữ văn học và văn hóahọc. М., 1990, tr. 140. Bởi vậy, tính chỉnh thể thuộc về Phong cách, tức là “diện mạo” đặc biệt của hình thức, bao giờ cũng là sự “độc đáo mang tính loại hình”. Thí dụ như những đặc điểm hình thức trong việc lựa chọn và sắp xếp từ vựng của L. Tolstoi mà ta nhận ra dấu ấn cá nhân khi so sánh tác giả ấy với các tác giả khác đều mang tính loại hình nếu đối chiếu nhiều tác phẩm khác nhau của tác giả này. Những dấu hiệu độc đáo được lặp lại, hay diễn đạt theo thuật ngữ của G. Kaiser, “những đặc điểm phong cách học” Stilzüge – “những hiện tượng ngôn ngữ tiêu biểu dùng để tổ chức tác phẩm như một chỉnh thể nhờ vào sự lặp lại của nó – biến Phong cách thành cái có thể nhận biết Mặt khác, thường các đặc điểm phong cách ấy càng dễ xác định, càng truyền cảm và hữu hiệu, thì sự việc càng nói nhiều hơn về những hiện tượng chệch ra ngoài lời nói “thông thường”. Chẳng hạn, trong một bài thơ, nếu khuyết mạo từ nhiều lần ở vị trí mà ta chờ đợi nó phải có, thì đúng là chúng ta đã bắt gặp một đặc điểm của phong cách hứa hẹn nhiều điều có thể giải thích” Kayser W. Das sprachliche Kunstwerk. 3. erweiterte Auflage. Bern, 1954, tr. 100-1-1. Bản dịch tiếng Nga của Bent. 2. Không hẳn là hướng tiếp cận của độc giả, mà chủ yếu là hướng tiếp cận vấn đề mang tính đặc thù của khoa học không chú ý tới khả năng nhận dạng, mà tập trung vào mối quan hệ qua lại và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các dấu hiệu phong cách học, bao gồm cả những dấu hiện liên quan tới các cấp độ và các bình diện khác nhau của cấu trúc nghệ thuật. Ở đây, cần kể tới cách định nghĩa khái niệm Phong cách trong một bài nghiên cứu viết từ đầu thế kỉ XX của Zirmunski “… khái niệm phong cách không chỉ có nghĩa là sự cộng tồn thực tế, tạm thời, hoặc có tính không gian, của các thủ pháp khác nhau, mà còn có nghĩa là sự chế định nội tại của chúng, là mối liên hiện hữu cơ, hoặc liên hệ nội tại giữa các thủ pháp riêng lẻ. Ấy là chúng tôi chưa nói vào thế kỉ XVIII, ở Pháp từng có một hình thức cổng vòm đặc biệt gắn với kết cấu một cửa chính hoặc mái cuốn đặc biệt; chúng tôi khẳng định cổng vòm như thế đòi hỏi phải có mái cuốn tương ứng. Như một học giả cổ sinh học dựa vào một số xương hóa thạch động vật, có thể biết được chức năng của nó trong cơ thể, phục hồi toàn bộ cấu trúc của hóa thạch ấy, nhà nghiên cứu phong cách nghệ thuật dựa vào cấu trúc của cột trụ hoặc tàn tích của tiền sảnh có thể giải cấu trúc đại quát chỉnh thể hữu cơ của tòa nhà, “tiên đoán” các hình thức giả định của nó. Chúng tôi xem những “tiên đoán” như thế, tất nhiên chỉ ở mức độ rất đại quát, là những khả thể trong lĩnh vực phong cách thi ca, nếu như tri thức của chúng ta về các thủ pháp nghệ thuật trong sự thống nhất của chúng, tức là trong nhiệm vụ nghệ thuật cơ bản của chúng, sẽ phù hợp với tri thức của các vị đại diện cho nghệ thuật tạo hình hoặc các nhà cổ sinh học” Zyrmunski – Nhiệm vụ của thi pháp học// Zyrmunski – Lí luận văn học. Thi pháp học. Phong cách học. L., 1977, Ở đây, sự nhận biết “cấu trúc” của tác phẩm nghệ thuật, của sơ đồ mà nó dựa vào đó để kiến tạo và là nguyên nhân xuất hiện các “dấu hiệu đặc thù” nào đấy đã thay cho việc dùng bản năng nắm bắt sự thống nhất của phong cách khi nhận thức những biểu hiện trực quan của Phong cách. Nhưng nếu như sáng tác nghệ thuật chỉ phỏng lại đơn giản một nguyên tắc cấu trúc truyền thống nào đấy thì không thể nói về Phong cách như là sự thống nhất trong mâu thuẫn giữa cái lặp lại và cái không lặp lại. Vì thế, “cái được tiên đoán” trong diện mạo của tác phẩm cần phải kết hợp với “cái bất ngờ”, còn hệ thống từ đó nảy sinh phong cách phải chưa hoạt động viên mãn, cạn liệt. Likhachev từng nói về sự “thiếu chính xác” có tính nguyên tác của nền kiến trúc châu Âu ở thời đại mà ông nghiên cứu “Trong những tác phẩm đích thực của nghệ thuật Roman, rất dễ phân biệt bên phải và bên trái cổng chính, đặc biệt là các chi tiết điêu khắc; cửa sổ và cột trụ cũng không giống nhau Bản thân các cây cột cũng khác nhau, khác nhau về đá được dùng làm cột, về hình thức có thể cột xoắn xen kẽ với cột nhẵn nhụi…. Nhưng module và tỉ lệ kiến trúc chung vẫn không bị phá vỡ. Việc cảm thụ cấu trúc theo phong cách Roman đòi hỏi người xem phải thường xuyên có sự “điều chỉnh”. Người xem mơ hồ cảm thấy phía sau mọi sự khác biệt là một cây cột “lí tưởng”, anh ta tạo ra trong tâm trí ý niệm về cửa sổ của bức tường ấy trong tòa nhà, hay vị trí ấy của bức tường, anh ta phục dựng trong ý thức sự cân đối và tạo ra giữa sự thiếu chính xác của một tòa nhà trong thực tế một bản chất lí tưởng nào đó, – bản chất đầy hấp dẫn bởi một số điểm mập mờ, thực hiện chưa toàn ven, nói chưa cạn ý” Likhachev – Mấy suy nghĩ về sự “thiếu chính xác” của nghệ thuật// Likhachev – Sự phát triển của văn học Nga từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII. L., 1973, tr. 394-400. Tóm lại, trong Phong cách, cái định trước, cái tiên đoán, tính cơ cấu luôn kết hợp với sự sống động và bất ngờ, và chính điều đó mang lại cho nó đặc điểm cá nhân của tác giả. 3. Có thể nhấn mạnh bản chất hai mặt của Phong cách, quan hệ mâu thuẫn giữa nguyên tắc sáng tạo mang tính sinh sản và sự thực hiện cụ thể của nguyên tắc ấy. Những đặc điểm hay dấu hiệu Phong cách, theo ý kiến chung, nằm ngay trên “bề mặt của tác phẩm”, có nghĩa, chúng là kết quả gia công chất liệu ở đây là lời nói và sự phân bố các yếu tố của nó trong không gian văn bản. Nhưng với tư cách là hệ thống tạo nên “diện mạo của hình thức”, Phong cách thể hiện một nguyên tắc có ý nghĩa sinh sản nào đó nằm ngay dưới chiều sâu của sự sáng tạo nghệ thuật. Từ điển phổ thông năm 1771 của Pháp gọi Phong cách là “một kiểu linh hồn của phát ngôn”. Theo công thức của một nhà lí luận hiện đại, “cấu tạo” “facture” của Phong cách là “cái bề mặt tác phẩm chỉ ra cái đích thị là nó, nguyên tắc sáng tạo ấy nằm ở chiều sâu của tác phẩm và có ở đó ngay từ đầu” Mikhailov – Những vấn đề của phong cách và các giai đoạn phát triển của văn học thời hiện đại// Lí luận phong cách văn học. Những bình diện nghiên cứu hiện đại. M., 1982, tr. 344. Bởi vậy, đã đủ bề dày truyền thống để sự phân biệt bề mặt “chất liệu” và chiều sâu ngoài chất liệu cho phép tồn tại hai cách giải thích cơ bản. Cách thứ nhất nhấn mạng sự di chuyển qua lại và sự bất khả phân tách trong thực tế hai bình diện đối lập nhau giữa chất liệu được tác giả gia công và tổ chức với thế giới quan của tác giả được thể hiện trong việc tổ chức chất liệu ấy. Nhưng với cách hiểu về Phong cách bỏ qua những khác biệt của các bình diện tác phẩm vì “sự thống nhất hình thức – nội dung” của, như đôi khi vẫn xuất hiện, sẽ không thể khám phá sự thống nhất ấy theo đặc trưng của nó như là kết quả khắc phục mâu thuẫn nội tại cụ thể. Vì thế, các mâu thuẫn xây dựng – sáng tạo sẽ được tìm kiếm bên ngoài tác phẩm trong quan hệ qua lại giữa giữa cá nhân người sáng tác và đối tượng mâu thuẫn với người sáng tạo ấy. Hướng tiếp cận trái ngược với hướng tiếp cận nói trên xuất phát từ quan niệm cho rằng nguyên tắc sáng tác chi phối Phong cách có một “tồn tại khác” về phía thực tại của độc-thính giả, hay khán giả mà nó hiện hữu ở đó. Phương án thứ nhất trong ciệc giải quyết vấn đề Phong cách được vạch ra trong mĩ học giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XX. Trong bài viết Mô phỏng đơn giản tự nhiên, bút pháp[2], phong cách 1788 của Goethe, ba thuật ngữ được nêu ra nhằm chỉ ba tình huống sáng tạo khác nhau 1 nghệ sĩ sao chép các hình thức trực quan bên ngoài của các đối tượng được cảm nhận trực tiếp khớp với đối tượng “tĩnh tại”tức là một yếu tố biệt lập, hoặc một bộ phận của tự nhiên; 2 chiếm lĩnh một chỉnh thể mà thực chất là thay thế “cuốn sách vỡ lòng vĩ đại của tự nhiên” bằng ngôn ngữ riêng của nghệ sĩ và trao cho đối tượng một hình thức đặc thù của cá nhân người cảm thụ phù hợp với một đối tượng – chỉnh thể của tự nhiên hết sức phức tạp, bao gồm nhiều chi tiết và hài hòa ở bên trong; 3 có thể có sự tổng hợp giữa sự mô phỏng giản đơn một đối tượng nhìn thấy với sự chiếm lĩnh thế giới bằng tinh thần khi ấy sẽ nắm bắt được bản thân nguyên tắc tạo ra sự vật, chứ không phải các hình thức của tự nhiên được lĩnh hội cùng lúc như là những hình thức vừa là đặc thù của nó, vừa thể hiện tâm hồn của nghệ sĩ. Cho nên, sự quan sát và nghên cứu các “chi tiết” được kết hợp với sự tự biểu hiện của người quan sát “Nếu sự mô phỏng đơn giản dựa vào sự sự kiến lập bình thản cái có thật, vào mọi sự quan sát nó, còn bút pháp thì dựa trên sự thụ cảm các hiện tượng bằng một tâm hồn nhạy cảm và tài ba, thì phong cách dựa trên những dinh lũy nhận thức vững chắc nhất, trên chính bản chất của các sự vật, bởi vì chúng ta có nhiệm vụ nhận thức nó trong trong những hình ảnh thị giác và xúc giác” J-W Goethe – Tuyển tập bộ 10 tập. M., 1978, tr. 26-30. Nietzsche đã tạo ra nguồn cảm hứng mới cho việc nghiên cứu sau này theo hướng không chia tách hai bình diện “kĩ thuật” và “tư tưởng hệ” của vấn đề Phong cách. Trong Những ý nghĩ không hợp thời Unzeitgemäße Betrachtungen, 1873, ông nói về Phong cách, bàn về sự đối lập hai sức mạnh, hay là hai nền móng sáng tạo làm nên tác phẩm mà theo ông, kiến trúc nằm ngoài sự đối lập ấy “Từ bản thân, người kiến trúc sư không đại diện cho cả trạng thái Dionysian, lẫn trạng thái Apollonian”. Sau đó, gắn kiến trúc với sự “chiến thắng thời tiết khốc liệt” và “ý chí quyền lực”, ông kết luận “Tình cảm tối cao với quyền lực và đức tin thể hiện ở chỗ nó có phong cách tối cao”; “Quyền lực … sống với ý nghĩ cho rằng không gì có thể làm trái với nó; nó dựa vào chính bản thân mình… tất cả những điều đó tạo ra phong cách tối cao” F. Nietzsche – Tiểu luận về cái không hợp thời// F. Nietzsche – Zarathustra nói như thế Tác phẩm chọn lọc. M., 1990, tr. 385, 386. Vì “chiến thắng thời tiết khốc liệt” hiển nhiên trùng khớp với trật tự Apollonian và đưa các yếu tố tự phát vô dạng vô hình Dionysian vào khuôn khổ định sẵn, nên phong cách vĩ đại hay “tối cao” là kết quả thâm nhập lẫn nhau giữa trật tự và tự phát cho tới mức không còn có sự khác biệt hoàn toàn giữa chúng, sự thâm nhập trở nên thiêng liêng như là qui phạm bởi một uy thế không thể chối cãi quyền lực. Tư tưởng của Goethe có ý nghĩa tích cực ở giai đoạn giao nhau giữa hai thế kỉ XIX và XX. Công trình nghiên cứu Bút pháp, diện mạo và phong cách 1912 của Vyach. Ivanov trực tiếp nhắm vào bài báo của ông. Nhưng thay vì ba khả năng sáng tạo do các nghệ sĩ khác nhau thực hiện, nhà triết học Nga đã nhìn thấy sự trưởng thành biện chứng của một người sáng tác chuyển từ khả năng này qua khả năng khác và bằng cách ấy vươn lên chiếm lĩnh và tái tạo thế giới một cách mới mẻ, ở những cấp độ cao hơn. Theo Vyach. Ivanov, tình huống khởi đầu là sở đắc “năng khiếu đặc sắc” của một “bút pháp[3] độc đáo và giọng điệu riêng chỉ thuộc về anh ta”. Ở trường hợp này, “bút pháp” không phải là phẩm chất sáng tác đã được tạo ra, mà là “nguyên tắc hình thái của sự trưởng thành nghệ thuật” “đã chứa sẵn trong bản thân, như trong hạt giống, một cá tính trong tương lai tựa như một tin tức tốt lành”. Tình huống thứ hai giống như sự phủ định tình huống thứ nhất và chuyển sang tình huống tiếp theo ấy là “sở đắc một diện mạo nghệ thuật”, muốn đạt có được tình huống ấy, phải hi sinh bút pháp. Nhưng kết quả của sự tự hi sinh này có thể là “một nguyên tắc hình thái mới của đời sống sáng tạo”. Nếu ở trường hợp đầu, nhà triết học đề cập tới âm nhạc chắc chắn nó có nghĩa là nhân tố tự phát Dionysian, thì ở trường hợp thứ ba, nguyên tắc mới – “phong cách” – trực tiếp gắn với Apollon sức mạnh của nó là sức mạnh của Thần y – “thực sự là sức mạnh của Apollon như Đức chúa Trời”. Và để tìm được Phong cách “đôi khi cần phải biết khước từ diện mạo”. Chuỗi lập luận tiếp theo của Vyach. Ivanov tỏ ra gần nhất với tư tưởng của Geothe “Bút pháp là hình thức chủ quan, phong cách là hình thức khách quan. Bút pháp mang tính trực tiếp, phong cách mang tính gián tiếp…”. Nhưng điều được nói sau đó về “phong cách lớn” lại là tái nhận thức, có ý tranh luận với các nhận xét của Nietzsche “Ông ấy đòi hi sinh cá nhân hoàn toàn, dâng hiến trọn vẹn cho nguyên lí khách quan hay toàn vũ trụ, hoặc là trong tư tưởng thuần túy của nó Dante, hoặc là dưới dạng hình thức bổ trợ và tòng thuộc nào đấy, khẳng định sự hiệp thông thần thánh” Vyach. Ivanov – Tuyển tập. Bruxelles, 1974, tr. 616-626. Ở đây, tư tưởng của Nietzsche về uy thế mâu thuẫn với tư tưởng về chủ nghĩa tập thể toàn dân hoặc toàn vũ trụ. Vè đại thể, nguyên tắc nhận thức bản chất của Phong cách chung cho các nhà tư tưởng khác nhau sở dĩ có được ảnh hưởng lớn lao nhờ dựa vào hai phạm trù quen thuộc là chủ thể và khách thể. Từ đây xuất hiện khả năng đưa vấn đề sang ngôn ngữ của tâm lí học sáng tạo. Đồng thời, với cách tiếp cận này, các đặc điểm thuộc những bình diện khác nhau của tác phẩm sẽ được trộn lẫn với nhau một mặt, thuộc văn bản; mặt khác, thuộc thuộc cấu trúc của thế giới được mô tả và hệ thống giá trị được phản ánh trong cơ cấu thế giới của nhân vật. Phương án thứ hai trong việc giải quyết vấn đề Phong cách được kiến tạo ở chính sự phân biệt bề mặt và chiều sâu của tác phẩm, dẫn tới quan niệm nhị nguyên về hình thức. Nó là con đẻ của chủ nghĩa hình thức trong nghệ thuật học châu Âu trong cuốn Những khái niệm cơ bản của lịch sử nghệ thuật 1915, Heinrich Velflin đã phân biệt “bình diện biểu hiện” và “phương thức mô tả như chính nó”. Sau này, hướng tiếp cận mới mẻ này thể hiện hiệu quả lớn lao trong các công trình nghiên cứu mĩ học của Bakhtin và Loshev. Bakhtin phân biệt hai dạng hình thức – hình thức kết cấu tổ chức chất liệu và hình thức cấu trúc giá trị điều chỉnh đối tượng thẩm mĩ. Theo ông, bên ngoài sự phân biệt nghiêm nhặt hai loại hình thức ấy “không thể đặt vấn đề đúng đắn về phong cách” Bakhtin – Những vấn đề văn học và mĩ học, tr. 22. Từ đây xuất hiện luận điểm tiếp theo, trong đó có khái niệm cơ cấu[4] đúng hơn là hai cơ cấu khác nhau “Phong cách ngôn từ theo nghĩa đen quan hệ của tác giả với ngôn ngữ và các phương thức sử dụng ngôn ngữ do anh ta ước định chỉ là sự phản ánh phong cách nghệ thuật của nó quan hệ với đời sống và thế giới đời sống cùng phương thức chế biến con người và thế giới của con người do quan hệ ấy ước định” trong một bản chất định trước của chất liệu Bakhtin – Mĩ học sáng tạo ngôn từ. Tr. 169. Theo Loshev, vấn đề Phong cách gắn với sự phân biệt “cấu trúc nghệ thuật” và cơ sở siêu cấu trúc” của nó; một mặt, phân biệt “nguồn gốc cơ bản của phong cách” – “nguyên mẫu” hay là “mô hình gốc” của nó và, mặt khác – “sơ đồ kết cấu của tác phẩm mà ta nói về phong cách của nó” Loshev – Vấn đề phong cách nghệ thuật. Kiev, 1994. Tr. 224-225. Công thức ấy cũng như ý kiến của Bakhtin gần gũi với luận điểm của Mikhailov ““Lối văn”[5] phản ánh biến thể của cái chung, trong khi đó, theo cách hiểu hiện đại, “phong cách” bao trùm toàn bộ chỉnh thể của tác phẩm, mở ra con đường vào bên trong và do ý nghĩa nội tại của chỉnh thể sinh ra” Mikhailov – Vấn đề phong cách và các giai đoạn phát triển của văn học hiện đại// Lí luận phong cách văn học. Các bình diện nghiên cứu hiện đại. M., 1982, tr. 344. Việc phân biệt “phong cách ngôn ngữ” và phong cách “theo nghĩa rộng nghệ thuật học của từ ấy” của Likhachev cũng tương tự như vậy Likhachev – Sự phát triển của văn học Nga từ thế kỉ Xđến thế kỉ XVII. Tr. 11 Nghiên cứu kinh nghiệm định nghĩa khái niệm, cũng như kinh nghiệm phân loại dựa trên những cơ sở khác nhau giúp ta nắm vững vấn đề Phong cách. Phương thức mô tả so sánh các Phong cách khác nhau phổ biến nhất là sự đối lập chúng với sự hỗ trợ của hệ thống khái niệm cặp đôi. Chẳng hạn, Zirmunski đối lập hai cấu trúc phong cách trong bài Về thơ cổ điển và thơ lãng mạn; việc phân chia các cấu trúc phong cách thành hai loại “giản đơn” và “phức tạp” cũng thể hiện nguyên tắc ấy Grigoriev; phân biệt các Phong cách “gốc” và “thứ sinh”. Ai cũng biết, Heinrich Wölfflin cũng đưa ra cách mô tả Phong cách như thế và lần đầu tiên nó được ông sử dụng trong cuốn sách nổi tiếng Phục hưng và Baroque 1889. TAMARCHENKO Người dịch Lã Nguyên Nguồn Поэтика Словарь актуальных терминов и понятий гл. Науч. Ред. Тамарченко – М., Изд. Кулагиной, Intrada, 2008. [1] Xem Tolstoi – Tôi thấy gì trong giấc mơ/ Tolstoi – Tuyển tập bộ 22 tập, T. 14, – 298. Đoạn văn trên được trích từ trang 292 – ND. [2] Tiếng Nga “Мане́ра”, có gốc từ tiếng Pháp “manière” – ND [3] Tiếng Nga “Мане́ра”, có gốc từ tiếng Pháp “manière” – ND. [4] Tiếng Nga “установка” – ND [5] Tiếng Nga “слог” -ND
Trong mảng văn học hiện thực phê phán, Nam Cao là tác giả đến muộn trong khi Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố... đã tạo dựng được chỗ đứng chắc chắn cho riêng mình với những tác phẩm nổi danh. Ở mảnh đất tưởng chừng đã được cày xới kĩ càng, Nam Cao vẫn tìm được cho mình một phong cách riêng biệt, tỏa sáng với một số lượng lớn tác phẩm đặc sắc, góp phần đưa dòng văn học hiện thực lên một đỉnh cao mới. Bài viết này sẽ viết về Phong cách văn học đặc sắc của Nam Cao và có so sánh sự khác biệt với các nhà văn cùng Tìm hiểu chung về phong cách văn học, phong cách của nhà văn, biểu hiện của nó.1. Phong cách văn họcPhong cách nghệ thuật là tính độc đáo có ý nghĩa thấm mĩ của một hiện tượng văn học nền văn học của một dân tộc, một thời đại văn học, một trào lưu văn học, sự nghiệp sáng tác của tác giả… Các yếu tố tạo nên phong cách văn học hệ thống các hình tượng, các phương thức biểu hiện nghệ thuật Phong cách văn học làm cho quá trình phát triển của văn học không phải là sự lặp lại nhàm chán mà là sự tiếp nối của những phát hiện nghệ thuật mới mẻ, giàu ý Phong cách nghệ thuật của nhà vănBiểu hiện ở việc đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, con người thông qua những hình tượng nghệ thuật đôc đáo và những phương thức, phương tiện biểu hiện đặc thù, in đậm dấu ấn cá nhân. Ví dụ, Hoài Thanh nói về phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu thời thơ mới "Một tâm hồn mở rộng, một tấm lòng chào đón, một con người ân ái đa tình… ham yêu, biết yêu…" Lời tựa tập Thơ thơ - 1938 Những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật của tác giả Yếu tố chủ quan thế giới quan, tâm lí, cá tính sinh hoạt.., khách quan tác giả chịu ảnh hưởng từ phong cách văn học của một dân tộc, thời đại, trào lưu, kiểu sáng tác Phong cách nghệ thuật của tác giả có sự thống nhất, lặp đi, lặp lại, có qui luật của các yếu tố nghệ thuật trong một loạt tác cách nghệ thuật là gì?Nói phong cách nghệ thuật nhà văn là nói đến một hệ thống những nét riêng biệt, độc đáo trong cách nhìn về thế giới và con người, nó thể hiện qua các phương thức, phương tiện nghệ thuật in đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo. Những nét riêng biệt, độc đáo đó có sự thống nhất, lặp đi lặp lại trong những sáng tác của nhà văn và nó tạo cho nhà văn một “chân dung tinh thần” riêng, không thể lẫn với ai. Một cách diễn đạt khác về phong cách Trong sáng tác văn học, nhà văn tạo ra được những dấu ấn riêng biệt, độc đáo trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, biểu hiện rõ cái độc đáo qua các phương diện nội dung và hình thức của từng tác phẩm, nhà văn đó được gọi là nhà văn có phong cách nghệ thuật. Cũng có tác giả đa phong cách, nhưng không phải tác giả nào cũng có phong cách. Chỉ những nhà văn thực sự tài năng, có cá tính sáng tạo mạnh mẽ, có ý thức nghệ thuật độc đáo mới có phong cách. Giai đoạn văn học 1930- 1945 là giai đoạn phục hưng của nền văn học dân tộc, một chặng đường ngắn mà hình thành khá nhiều cây bút có phong cách. Dựa vào thành tựu trong sáng tác của các nhà văn, chúng ta có thể nêu ra các tác giả văn xuôi hiện thực có phong cách rõ rệt là Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao3. Những biểu hiện để xác định một nhà văn có phong cách nghệ thuật- Cách nhìn, cách cảm thụ giàu tính khám phá nghệ thuật đối với cuộc đời - Giọng điệu riêng gắn liền với cảm hứng sáng tác. - Nét riêng trong lựa chọn đề tài, chủ đề, đối tượng miêu tả. - Tính thống nhất, ổn định trong cách sử dụng các phương thức và phương tiện nghệ Cái nhìnTrước hết nhà văn có những khám phá mới mẻ trong cách nhìn cuộc sống. Chẳng hạn, cùng là nhà văn hiện thực trước cách mạng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng Nam Cao quan tâm nhiều về nỗi khổ đến mức bi kịch của người trí thức. Nam Cao cũng cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa của nỗi khổ của họ và lên tiếng đánh động xã hội. “Người nọ, người kia không đáng để ta khinh ghét. Cái đáng nguyền rủa là cái xã hội kia. Nó đã tạo ra những con người tham lam và ích kỷ.” Sống mòn. Phát hiện và phát biểu như vậy là đáng quý, nhưng cái “hơn người” của Nam Cao là luôn băn khoăn về nhân phẩm của con người và ý thức báo động con người hãy giữ lấy nhân phẩm của mình trước những cái nhỏ mọn. Đó chính là chiều sâu của cái tâm nhà văn, nó định hướng cách nhìn đời và nhìn người của tác giả. b Dấu ấn sáng tạo của tác giả còn bộc lộ ra qua các yếu tố thuộc phương diện nội dung của tác phẩm. Chọn lựa đề tài, triển khai cốt truyện, xác định chủ đề, xác lập tứ thơ, mỗi nhà văn sáng tạo ra “đất” riêng của mình. Cũng hiện thực tăm tối trước 1945, Ngô Tất Tố phát hiện ra “vùng trời tối đen như mực” của người nông dân, trong khi Thạch Lam quan tâm đến những đứa trẻ phố huyện có cuộc sống “một ngày như mọi ngày”, đến ước mơ cũng không biết ước mơ điều Giọng điệu của tác phẩmVì vậy người ta hay nói giọng trào phúng của Vũ Trọng Phụng, giọng triết lý của Nam Cao. Ngay ở Nam Cao cũng có giọng trào phúng, nhưng đã có người chỉ ra rất cụ thể như sau “So với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thì Nam Cao có nhiều điểm khác cười của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là tiếng cười hướng ngoại, còn tiếng cười của Nam Cao là tiếng cười hướng nội.”d Biểu hiện rõ nhất của cá tính sáng tạo làm nên phong cách nghệ thuật nhà văn là ở hệ thống các phương thức, phương tiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng trong tác phẩm.Đó là nghệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, tổ chức kết cấu bộc lộ sự “cao tay” của nhà văn. Tài hoa và uyên bác là phong cách của Nguyễn Tuân trong việc vận dụng ngôn ngữ, ở lĩnh vực này thì Vũ Trọng Phụng để lại ấn tượng ở ngôn ngữ nhân vật đạt mức độ cá tính hóa cao nhất. e Sáng tạo để làm nên cái riêng, cái mới lạ trong các phương diện trên, song mỗi nhà văn có phong cách phải “thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác. Cái độc đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững nhất quán ”Ngữ văn 12,tập 1,Nxb giao dục, 2009. Không chỉ có thế, bất cứ sự sáng tạo ra cái độc đáo nào đòi hỏi phải nằm trong tầm đón nhận của độc giả, nghĩa là phải có hiệu quả thẩm mỹ, đem lại sức hấp dẫn bền lâu cho người đọc. g Phong cách nghệ thuật định hình ở một nhà văn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ngoài yếu tố chủ quan là quan niệm nghệ thuật chi phối sáng tác, thì hơi thở của dân tộc và thời đại cũng thổi không khí vào sáng tác của tác giả. Cần lưu ý là mỗi tác giả có phong cách nghệ thuật không nhất thiết phải có đầy đủ các biểu hiện như đã chỉ ra ở Những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nam Cao1. Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh trong cuộc sống hàng ngày, qua đó triết lí về cuộc đời, đặt ra vấn đề có ý nghĩa to lớn về cuộc sống và nghệ thuật.Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt nhưng lại đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao, thể hiện những triết lí sâu sắc về con người, về cuộc sống, về nghệ thuật. Truyện Sao lại thế này? viết về sự đổi thay của một người phụ nữ từ một người vợ nhà quê, mất nết thành bà Hưng Phú có tư cách của một người đàn bà quí phái với nhiều đức tính tốt đẹp. Bà Hưng Phú giàu sang, lịch thiệp bây giờ, trước đây là vợ cũ của Hiệp. Hồi ấy, thị cứng như một cái đanh, bẩn thỉu, và cục mịch. Trong con mắt của Hiệp, thị là một đứa con gái đét đóng, gầy guộc, đầu bù tóc rối, quần áo lôi thôi, mặt ngơ ngác, da xanh bủng, cả ngày chả nói một câu, mà ăn thì thô tục, thì cắm cúi mắt chẳng lúc nào rơi cái bát. Thị xấu tính đến mức cả làng ai cũng biết thị đã vụng, đã lười, đã ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời, lại còn có tính gian thị chúa đời là hay ăn cắp và hay ăn vụng. Một đứa con gái như thế, vậy mà hơn mười năm sau, khi được sống trong hoàn cảnh khác đã thay đổi từ hình dáng đến tính tình đến mức ngay cả Hiệp cũng không nhận ra đó là vợ cũ của mình nữa. Bà Hưng Phú trong con mắt của Hiệp bây giờ là người đàn bà lịch sự có tài nói chuyện, có giáo dục, có tư cách, có tâm hồn. Bà biết vui mà không lả lơi, đứng đắn mà không nghiêm nghị, nhẹ nhàng mà không phù phiếm. Cách trang điểm của bà cũng vậy đẹp nhưng nhũng nhặn. Qua Sao lại thế này? Nam Cao lên tiếng phê phán những thành kiến ngu ngốc, và nhất là nhấn mạnh tầm quan trọng của hoàn cảnh đối với việc hình thành tính cách của con người. Hoàn cảnh đổi rất có thể là người đổi, tâm tính về anh cu Lộ trong Tư cách mõ, Nam Cao kể việc Lộ ngang nhiên trơ tráo ngồi ăn, phè phỡn một mình một mâm. “Mùa đến, hắn vác một cái đòn càn có quấn mấy sợi thừng ở một cột đầu, đi hết ruộng nọ đến ruộng kia…đến xin bà, hay thầy, hay cô lượm lúa…Mồm hắn nói, tay hắn lượm…”. “Tết đến, ngày mùng một, bố con hắn xách một bao chè với năm quả cau đến mừng tuổi các ông quan viên để kiếm cỗ ăn và kiếm tiền phong bao. Rồi mùng năm mùng sáu, vợ chồng hắn lại đi tua nữa, để xin bánh chưng, bánh thừa…” Qua đó, Nam Cao đã phác họa cho ta thấy một hình ảnh người nông dân bị thống trị bóc lột, có lúc đã thay đổi được số phận mình nhưng đó chỉ là những hành động tự phát riêng lẻ, xuất phát từ sự liều lĩnh. Chưa bao giờ có ý thức cải tạo xã hội, thay đổi kiếp người, chưa được hướng dẫn bởi ánh sáng của bất cứ lí tưởng xã hội nào. Vấn đề triết lý dường như xuyên suốt trong hầu hết tất cả các sáng tác của Nam Cao. Có thể nói, cảm hứng triết lý đã trở thành cảm hứng nghệ thuật trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao. Gần như truyện nào ta cũng thấy câu hỏi “Chao ôi, ở trên đời này có cái gì bền vững mãi đâu?”. Cũng như có lúc Nam Cao lên tiếng bằng tiếng nói phẫn uất “Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành?”. Tất cả tạo nên một giọng điệu đặc trưng rất Nam Cao giọng triết lý với đa sắc điệu. Khi thì đắng cay chua chát, lúc lại hài hước, dí dỏm. Kết quả của lối triết lý trong sáng tác của Nam Cao là do sự quan sát tinh tế cùng với ý thức chiêm nghiệm về cuộc đời và nỗi đau đáu thương người. Viết về người trí thức nghèo, Nam Cao tập trung khai thác tấn bi kịch tinh thần của họ. Hoài bão, khát vọng và hiện thực không dễ dàng dung hòa trong bất cứ xã hội nào. Hiện thực ấy được Nam Cao khéo léo chuyển tải qua câu chuyện xung đột trong gia đình Hộ- một nhà văn. Riêng Hộ vi phạm quy tắc tình thương hay nhiều nhà văn đều có thể vi phạm như Hộ? Đó là bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản khi gánh nặng cơm áo gia đình buộc họ phải sa một chân vào sự tàn nhẫn, nhỏ nhen,… Tuy nhiên, ở Đời thừa, nhiều triết lý khác hiện ra rất dễ nhận thấy và có thể xem đó là những triết lý đúng đắn về bản chất của sự sáng tạo “…không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khời những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Nam Cao đã đặt ra những vấn đề xã hội rộng lớn đòi hỏi một cuộc cách mạng xã hội tiến bộ mới mong giải quyết được. Cũng vậy, vấn đề dấu tranh chống lại cái ác, cái xấu, vấn đề bảo vệ nhân cách trước áp lực tha hóa của hoàn cảnh, vấn đề cái xấu của người lớn trước mặt trẻ con, bi kịch “sống thừa” của người trí thức, những cái chết ngay trong lúc còn đang sống, chết cả trong lúc nó, chết trong đau khổ của sự nhẫn nhục, cam chịu theo triết lý tôn giáo, triết lý tình thương, sự công bằng… Tất cả những vấn đề ấy, mặt nổi là vấn đề triết lý vẫn còn đòi hỏi buộc người đọc tiếp tục suy ngẫm… Nghiên cứu tác phẩm Nam Cao, sách “Văn học Việt Nam thế kỉ XX” Phan Cự Đệ có nhận định thật xác đáng “Ở truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thường thấy hai tầng ý nghĩa Một tầng ý nghĩa gắn với tình tiết sự việc và câu chuyện mà nhà văn muốn trần thuật lại; và tầng thứ hai, là những đúc kết có tính chất khái quát, triết lý…”2. Nam Cao có tài đặc biệt trong việc phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật. Ngòi bút của ông có thể thâm nhập vào những quá trình tâm lý phức tạp, những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn con người; từ đó dựng lên được những nhân vật tư tưởng vừa có tầm khái quát lớn vừa có cá tính độc đáo.Nam Cao là một bậc thầy trong cách kể chuyện vừa hết sức chân tình vừa mang tầm khái quát cao. Người đọc có cảm tưởng nhân vật không hề hư cấu, tất cả đều rất thật. Từ những chuyện xoàng xĩnh đời thường như không có gì để nói, Nam Cao đã làm nổi bật lên những vấn đề có ý nghĩa to lớn về xã hội, nhân sinh với cách vào chuyện, dân chuyện tự nhiên lôi cuốn, kết cấu rất thoải mái, mới nhìn dường như tùy tiện nhưng kì thực rất chặt Cao có sở trường miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật. Ngòi bút của ông có khả năng đi sâu vào những ngõ ngách, tâm tư sâu kín cùng những diễn biến phức tạp trong nội tâm con người. Truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám là truyện ngắn tâm lí. Nam Cao dẫn ta nhập vào dòng suy nghĩ, dòng chảy tâm trạng của nhân vật. Tính chất “đang suy nghĩ”, “đang đối thoại”, “đang độc thoại”, “đang nói chuyện trong tâm tưởng” của nhân vật là một nét đặc trưng trong các sáng tác của Nam Cao. Nếu như nhân vật văn xuôi của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa chủ yếu là nhân vật hành động, nhân vật tính cách , thì đến Nam Cao đã sáng tạo ra kiểu nhân vật tự ý thức, ý thức về số phận, về kiếp mình. Câu chuyện là dòng tâm lí vận động không ngừng. Cảnh vật và thời gian cũng thấm đẫm tâm lí nhân vật. Như quá trình say rồi tỉnh của Chí Phèo được miêu tả một cách rất biện chứng qua cuộc gặp gỡ với Thị Nở. Từ một thằng lưu manh say khướt, sau một cuộc đụng chạm xác thịt mang tính chất bản năng và cơn cảm nặng, khiến Chí tỉnh táo hẳn lên để lặng nhớ kỉ niệm, lắng nghe cuộc đời. Sau những tháng ngày chìm dài trong cơn sau, lần đầu tiên Chí thấy mình tỉnh. Anh nghe thấy những âm thanh của cuộc sống, đó là tiếng chim hót, tiếng người thợ thuyền gõ mái chèo đuổi cá, tiếng người đi chợ về…Những âm thanh tuy rất quen thuộc với những người bình thường nhưng sao lại xa lạ với Chí quá. Nó khiến hắn nhận thức được rằng thì ra cuộc sống ngoài kia vẫn đang tốt đẹp duy chỉ có hắn bị đẩy ra đứng bên lề xã hội. Trong giờ phút tỉnh rượu hiếm hoi, Chí Phèo nhớ lại một quá khứ đã qua, một quá khứ với những giấc mơ rất đỗi bình thường “có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Ôi! Cái ước mơ giản dị tưởng như ai cũng dễ dàng có được mà bàn tay Chí không thể với tới. Chí bỗng nhận ra thực trạng đáng sợ của đời mình “hắn đã già”, “ngoài bốn mươi tuổi đầu”. Nhìn lại cuộc đời mình Chí chẳng có gì ngoài một con số không không nhà không cửa, không họ hàng thân thích , không mảnh đất nương thân. Thậm chí đời hắn còn là một con số âm khi hắn còn mất cả nhân cách người. Một tương lai tối mịt đang chờ Chí “đói rét, ốm đau và cô độc”. Chưa bao giờ Chí thấy lo sợ như bây giờ, đến một lúc nào đó không còn đủ sức mà giật cướp nữa, hắn sẽ sống bằng gì? Sự hoang mang lo lắng làm hắn sắp khóc nếu Thị Nở không đến. Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành và lần đâu tiên Chí được người khác cho. Cũng phải thôi, từ trước đến nay có ai cho hắn cái gì bao giờ, “hắn phải dọa nạt hay giật cướp”. Chính vì thế mà “thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt.” Hình như Nam Cao rất tin vào những giọt nước mắt, đối với ông những giọt nước mát ấy là sự thể hiện của một nhân cách đang tìm về. Và thật đúng trong giờ phút đón nhận bát cháo hành, biểu hiện của tình yêu thương mà lần đầu tiên Chí được hưởng, thì cũng là lúc bản chất người bấy lâu nay trỗi dậy “Ôi sao mà hắn hiền” là hắn nhận thấy mình “thèm lương thiện. Hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao. Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Vậy bằng cách miêu tả nội tâm nhân vật, Nam Cao đã làm rõ quá trình thức tỉnh của Chí Phèo như là một quá trình tự ý thức của nhân vật. Vì thế tính cách nhân vật thể hiện rất chân “Đời thừa”, một trong những đoạn văn điển hình cho kĩ thuật này là đoạn kết thúc, thể hiện quá trình xám hối của nhân vật sau một đêm say rượu và có những hành vi vũ phu với vợ con. Qúa trình này được bắt đầu bằng một cảm giác, một cảm nhận thuần túy thể xác, có ý thức “hắn tỉnh dậy”, “hắn thấy mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng”… Cảm giác thân xác đó thúc đẩy một cử chỉ “đưa tay với ấm nước” và chính cái ấm nước đầy, hãy còn ấm ấy đã đánh thức sự thức tỉnh của ý thức về sự ý tứ của Từ. Và liền đó, ý thức đánh thức một tâm trạng buồn. Và sau đó là kí ức, là nhớ. Cứ thế hành động lôi cuốn suy nghĩ nhân vật trôi đi trong “nhớ”, trong “hoảng sợ”, trong những suy nghĩ miên man về vợ, về mình và cuối cùng bật ra tiếng khóc “Nước mắt hắn bật ra như một quả chanh mà người ta bóp mạnh”. Chuỗi tâm lí này được dồn nén trong một đoạn văn ngắn và điều quan trọng là mỗi “mắt xích” trong chuỗi đều có sự liên kết với những “mắt xích” khác. Đó là kết quả của một nguyên nhân trước đó và đến lượt mình lại là nguyên nhân của một kết quả nối tiếp. Từ việc miêu tả tâm lí nhân vật, Nam Cao dựng lên nhân vật có tầm khái quát lớn hay còn gọi là nhân vật điển hình. Ông hay viết về một người, từ đó dựng lên thành nhiều người, viết về một người đàn bà mà thành cả xã hội nữ giới, viết về một cậu con trai mà thành một tầng lớp thanh niên. Chí Phèo là hình tượng có tính quy luật, là sản phẩm của sự áp bức ở nông thôn. Sự tha hóa của Chí Phèo khá phổ biến và trở thành nỗi ám ảnh của Nam Cao. Ta bắt gặp một tạng nhân vật như Chí Phèo trong một số tác phẩm khác như Trạch Văn Đoành “Đôi móng giò”, Lộ “Tư cách mõ” và ngay trong truyện “Chí Phèo” còn có Năm Thọ, Binh Chức và thấp thoáng một Chí Phèo con sắp ra Chí Phèo, Nam Cao muốn ném ra giữa cuộc đời một thằng “cùng hơn cả dân cùng” điển hình cho những nỗi khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Chí Phèo không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không một tấc đất cắm dùi. Mới đẻ ra Chí đã bị vứt bên một lò gạch cũ bỏ không, trở thành một món hàng mua bán. Suốt quãng đời từ thuở còn thơ “bơ vơ hết đi ở nhà này lại đi ở nhà nọ” đến tuổi thanh niên làm công điền cho ông Bá Kiến, Chí Phèo phải làm thân trâu ngựa của người cố nông lao động cực khổ ở nông Chí Phèo vào hoàn cảnh không được sống đúng với bản chất, như điều mình mong muốn là người lương thiện mà phải sống bất lương, là người lao động chân chính mà phải đi ăn cướp, muốn thân thiện mà lại phải đi phá hoại hạnh phúc của mọi người… Chính nhà tù thực dân, sự áp bức bóc lột nặng nề, thủ đoạn thống trị độc ác và nham hiểm của giai cấp thống trị, những thành kiến, định kiến tồi tệ và thái độ hắt hủi nhục mạ của những người xung quanh đã đẩy Chí Phèo càng ngày càng xa dần đồng loại của mình, trở thành một “con vật lạ”, “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Đẻ ra anh cố nông hiền như đất là một bà mẹ tội nghiệp, khốn nạn nào đó đã lén lút vứt con ở cái lò gạch cũ. Còn đẻ ra thằng Chí Phèo chuyên rạch mặt ăn vạ là cả cái xã hội thực dân phong kiến đầy bất công, vô nhân Ngôn ngữ của Nam Cao hết sức tự nhiên, sinh động, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng. Trong sáng tác của Nam Cao có sự chuyển hóa giữa ngôn ngữ người kể chuyện với ngôn ngữ nhân vật góp phần đắc lực vào việc miêu tả tâm lí nhân vật. Đọc truyện Nam Cao, ta nhận ra ở đây một hệ thống ngôn ngữ hết sức tự nhiên, sinh động gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Có những đoạn văn, tác giả chỉ sử dụng một kiểu ngôn ngữ đặc sệt chất đời thường, là ngôn ngữ của quần chúng, nhân dân lao động “ Cái đầu thì trọc lốc, cái răng thì trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết.” Chí Phèo; “Ngay cái tên cũng khó nghe rồi. Thà cứ là Kèo, là Cột, là Hạ, là Đông. Là gì cũng còn dễ nghe. Nhưng hắn ta lại là Trạch Văn Đoành. Nghe như súng thần công. Nó chọc vào lỗ tai.” Đôi Móng Giò; “Ối làng nước ôi! Cứu tôi với… Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! ” Chí Phèo Có thể nói hơn bất kì một nhà văn khác cùng thời , ngôn ngữ Nam Cao cho đến bây giờ vẫn tỏ ra không cũ với thời gian, cả về mặt từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp. Những lớp ngôn ngữ ấy đã ăn sâu vào đời sống của nhân dân. Mỗi khi nhắc đến kẻ lưu manh, người ta vẫn thường hình dung ra cái dáng vẻ “cơng cơng”, “gớm chết” của Chí Phèo như một hình ảnh tiêu biểu. Sức sống ngôn từ của Nam Cao là ở Cao đã đem ngôn ngữ làng quê vào truyện một cách tự nhiên. Đó là những cách ví von, những cách suy nghĩ, nói năng, cách diễn đạt đặc thù của người nông dân Bắc Bộ “chõ mõm vào”, “đầu gio mặt muối”, “chạy xạc cả gấu váy”, “buồn cười chửa”… Có thể nói chất giọng, ngôn ngữ nông dân Bắc Bộ chi phối nhiều đến yếu tố văn chương của Nam Cao và là một trong những đăcj điểm quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật Nam Cao, đặc biệt trong việc thể hiện tâm lí nhân vật. Nam Cao có khả năng lựa chọn ngôn ngữ riêng phù hợp với tính cách và hoàn cảnh cụ thể của nhân vật. Đây là ngôn ngữ của Bá Kiến quát mấy bà vợ đang xưng xỉa với chồng “ Các bà đi vào nhà. Đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì!”, với người làng, lão dịu giọng nhưng vẫn tỏ ra thế bề trên “Các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ. Có gì mà xúm lại như thế nào?” Với Chí Phèo đang rạch mặt ăn vạ, hắn tỏ ra ngọt dịu, vừa dụ dỗ, vừa ra uy “Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế? Còn ngôn ngữ Chí Phèo cũng “đặc” Chí Phèo hỗn láo, thực dụng, dọa dẫm “ Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng”. Nhưng với Thị Nhở hắn tỏ vẻ thân tình hơn “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”. Qua những ngôn ngữ ấy, bản chất nhân vật được hiện lên đầy đủ, chân thực. Qua cách nói chuyện ta nhận ra sự gian manh, theo đời của Bá Kiến…Đặc biệt, Nam Cao thường tạo nên sự chuyển hóa giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật. Người trần thuật – tác giả ở đây đã nhập vai chứ không nhập thân vào nhân vật. Người trần thuật thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật và trần thuật bằng chính giọng điệu của nó. Trong những trường hợp như thế, khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật trên thực tế bị thủ tiêu, điểm nhìn của cả hai phía đều hòa nhập làm một. Như khi mở đầu truyện “Chí Phèo” “hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ “ chắc nó trừ mình ra!” “ Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật, tức chết đi được mất!” Chinh sự đa dạng, đan xen, biến hóa của ngôn ngữ đã góp phần làm nên phong cách nghệ thuật nhà văn Nam Truyện NC thường kết cấu theo dòng tâm lí của nhân vật, mạch tự sự của tác phẩm Nam Cao, thường đảo lộn trật tự của thời gian, không gian tạo nên lối kết cấu vừa linh hoạt vừa hết sức chặt chẽ.Truyện Nam Cao thường kết cấu theo dòng tâm lí nhân vật. Mạch tự sự của truyện không theo trật tự thời gian – không gian, tạo nên một lối kết cấu linh hoạt, chặt chẽ. Truyện của Nam Cao không đi theo trình tự cuộc đời nhân vật mà tuân theo trình tự tâm lí. Do vậy kết cấu tâm lí trở thành đặc điểm của văn xuôi hiện đại. Truyện không có cốt truyện hoặc mờ dần vai trò của cốt truyện, thì từ đó “nghệ thuật của nội dung càng tăng thêm giá trị, ý nghĩa của truyện ngắn. Có thể kể ra hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng, mà hình thức của truyện là không có cốt truyện như “Tội ác và trừng phạt” Đốtxtôiepki, “Ông già và biển cả” Hemingway, “Đỏ và đen” Xtăngđen…Khảo sát văn Nam Cao chúng ta thấy nhà văn có kiểu kết cấu độc đáo. Các nhà văn Việt Nam trước Nam Cao tài năng trong việc kể, còn Nam Cao đem tâm lý nhân vật ra xâu chuỗi thành những truyện ngắn, tiểu thuyết đầy sức lôi cuốn với độc giả. Tiểu thuyết “Sống mòn” đã xoay quanh câu chuyện mấy tri thức tiểu tư sản và mấy thầy cô giáo. Truyện không tìm thấy một cốt truyện rõ ràng trong truyện truyền thống, song dòng tâm lí nhân vật đã tạo sức hấp dẫn bạn đọc, thậm chí có người không ngớt thán phục “Tiên sư nhà văn Nam Cao” Mượn ý của truyện “Đôi Mắt”. Văn học hiện đại trên thế giới đã có một tư duy mới về kết cấu tác phẩm. Theo “Từ lâu cốt truyện không còn là nền tảng của tiểu thuyết nữa”, Proust – nhà văn Pháp nhấn mạnh “Cốt truyện tan ra để tái kết lại phục vụ cho một kết cấu thời gian tâm lý. Trong sự vận động cho đến ngày nay của văn xuôi hiện đại, vai trò của cốt truyện càng giảm, nhường chỗ cho ngòi bút công phá vào chiều sâu tâm lý nhân vật. Truyện hiện đại khám phá những góc khuất tâm hồn. Nhà văn Nam Cao ngay từ những năm 1930 – 1945 đã chọn lối kể chuyện theo dòng tâm lý ở hầu khắp tác phẩm và ông quả là cây bút khá nhạy cảm với quan niệm văn xuôi hiện xây dựng nhân vật theo dòng tâm lý, nhà văn sử dụng kết hợp thủ pháp độc thoại nội tâm, hai yếu tố đó trở thành đối tượng miêu tả trực tiếp của nghệ thuật. Hãy đến với những dòng tâm lý của Chí Phèo, đặc biệt là giai đoạn sau khi gặp Thị Nở. Lúc đầu hắn đến với thị chỉ là theo bản năng cộng với cơn cảm lạnh thì sau khi thức dậy, hắn như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài. Đây là lần thứ nhất hắn tỉnh. Những cảm giác của hắn đã bắt đầu sống dậy hắn nghe thấy “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá”, “tiếng cười nói của những người đi chợ”, “anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, những tiếng quen thuộc ấy ngày nào chả có nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy. Những kí ức xưa quay trở về. Hắn nhớ hắn từng có ước mơ giản dị như bao người khác “Một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm…”. Hắn thấy mình già nhưng vẫn còn cô độc. Chính sự chăm sóc nhiệt tình cùng với bát cháo hành là liều thuốc giải độc cho tâm hồn bất hại của Chí Phèo, khiến lương thiện nổi dậy trong hắn nhưng ngờ đâu cánh của cuộc đời vừa mới mở đã bị đóng sầm ngay trước mặt vì sự phản đối của bà cô Thị Nở. Cuộc đời Chí Phèo chấm dứt từ đây. Nam Cao thật tài tình khi phác hoạ những dòng suy nghĩ ẩn chứa sâu trong tâm hồn Chí Phèo. Nói chung văn xuôi hiện đại đến Nam Cao đã tạo ra “một bước tiến dài trong kết cấu”. Nhờ xây dựng cốt truyện theo dòng tâm lý nhân vật, truyện ông thường mở đầu những trắc ẩn trong tâm hồn nhân vật hoặc phần cuối câu chuyện được đưa lên trước. Truyện ngắn “Lão Hạc” cái ý định bán chó được đưa lên đầu câu chuyện, sau đó tác giả để cho nhân vật ông giáo kể về đứa con của lão, rồi nỗi đau của ông già phải bán đi cậu Vàng con chó gắn bó với mình. Như vậy, ở truyện của Nam Cao, kết cấu tâm lý đâu chỉ phù hợp với nhân vật người trí thức mà tác giả đã vận dụng kết cấu hiện đại này để miêu tả nội tâm của người nông truyện ngắn “Một đám cưới”, tác giả đã “khai bút” bằng cảm giác của nhân vật Dần trong một buổi sáng. Sau đó, tác giả mới kể lại tâm lý của một cô gái khi xa nà đi ở. Cuối cùng là diễn biến tâm lý ngày đầu tiên đi về nhà chồng. “Đời thừa” được bắt đầu ở chính giữa mạch truyện đồng thời trong toàn bộ văn bản truyện, Nam Cao không tuân thủ trật tự tự nhiên của các tình tiết sự kiện. Được mở đầu bằng cảnh Hộ ngồi đọc sách một cách khắc khổ và tràn ngập hạnh phúc. Nam Cao đột ngột cắt đứt mạch kể để ngược về quá khứ, trình bày lại cuộc đời của Hộ trước khi lấy Từ. Hành vi cao thượng của y cứu vớt cuộc đời Từ và quãng đời của y trước khi lấy Từ. Sau đó mạch truyện lại quay về với cảnh Hộ đọc sách để tiếp tục “chạy” theo diễn biến của cốt truyện. Lối kể này không chỉ tạo nên một không khí cuốn hút người đọc nhập thẳng vào không khí căng thẳng của thế giới nghệ thuật trong truyện đồng thời tạo nên một lối kết cấu linh hoạt, chặt cận truyện của Nam Cao, độc giả đối diện với kiểu tính chất “đang suy nghĩ”, “đang độc thoại”,…của nhân vật. Dòng tâm lý nhân vật được vận động không ngừng. Các yếu tố không gian, thời gian được lược bỏ đi nhiều. Tóm lại truyện Nam Cao thường kết cấu theo dòng tâm lý nhân vật. Mạch tự sự của truyện không theo trật tự thời gian, không gian, tạo nên một lối kết cấu linh hoạt, chặt Về giọng điệu, văn NC vừa tỉnh táo, sắc lạnh vừa nặng trĩu suy tư và đằm thắm thương yêu. Hai giọng văn đối lập nhau cứ chuyển hoá qua lại, tạo nên những trang viết thú vị, hấp dẫn.Trước hết là cách gọi tên nhân vật Chí là “hắn”, cách miêu tả về cuộc đời khi từ từ trở về bắt đầu bằng tiếng chửi “Hắn vừa đi vừa chửi. Hắn chửi đời…chửi cả làng Vũ Đại”.Giọng lạnh lùng khách quan, tỉnh táo ,sắc lạnh là đặc trưng của Nam Cao. Ở đây Nam Cao tách mình ra khỏi nhân vật, ông đứng bên ngoài sự thất trần trụi, vẫn tự nhiên khách quan kể về quá trình tha hóa của Chí Phèo như thiếu thiện cảm với nhân vật “Hắn về lớp này trông khác hẳn. Trông đặc như thằng săng đá…”. Ta thấy giọng của Nam Cao dường như khắc nghiệt tàn nhẫn lạ lùng. Ông miêu tả tình yêu của Từ đối với chồng “Từ yêu chồng bằng một tình yêu của một con chó đối với chủ nuôi” trong Đời Thừa. Đôi khi ta thấy nhà văn như muốn nghiêng về cái ác khi điễn tả dòng tâm lí của nhân vật Hộ “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Thế nhưng bên trong cái sắc lạnh ấy ta lãi cảm nhận một tình yêu dạt dào dành cho những nhân vật đau khổ của mình. Sau khi miêu tả quá trình tha hóa của Chí Phèo, ta thấy ông đã dành những trang văn riêng để nói lên những biến thái tinh vi trong tâm trạng của một con quỉ làng vũ Đại muốn trở thành người lương thiện. Tả cảm giác của Chí Phèo khi tỉnh dậy sau một cơn say dài, nghe những âm thanh của cuộc sống thường nhật “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá. Có tiếng cười nói của những người đi chợ…”. Đoạn tả Chí Phèo với cảm giác lần đâu tiên nếm hương vị cháo hành, hương vị của tình yêu “ Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng Những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành ăn rất ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo?”. Nam Cao trân trọng khát khao muốn làm người lương thiện của Chí. Những lời ấy thống thiết xúc động biết bao “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của người lương thiện”. Cái cảm thông đau đớn của ông khi biết Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người “Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”.Dường như ta thấy thấm đẫm trong những giọt nước mắt của Hộ sau khi đánh Từ thấp thoáng niềm cảm thông cảu nhà văn trước bi kịch của người nghệ sĩ không giải quyết được những mâu thuẫn giữa nghệ thuật và tình yêu thương con người. “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc…Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay nhỏ bé cả Từ vào ngực mình mà khóc”. Nam Cao thương cảm cho số phận và bi kịch của văn sĩ Hộ. Những giọt nước mắt chất chứa bao nhiêu tâm trạng, có tình yêu thương, có sự hối hận, nỗi đau tủi nhục. Người đọc không thể quên sau bao nhiêu lần lầm lỡ, Hộ vẫn giữ nguyên vẹn trái tim nhạy cảm đối với thân phận bất hạnh, cuối cùng vẫn đứng vững trên lẽ sống nhân đạo. Giọng của Nam Cao vừa tỉnh táo sắc lạnh, vừa trữ tình đằm thắm tin yêu. Từ đó cho thấy một tấm lòng nhân đạo cao cả của Nam Cao đối với con người, đó là lòng yêu thương, sự tin tưởng lớn lao dành cho các nhân vật. Nam Cao như đang muốn tâm tình, thỏ thẻ đằng sau giọng lạnh lùng giọng điệu này tuy đối lập nhưng có sự chuyển hóa qua lại giúp giải quyết vấn đề. Giọng điệu của Nam Cao là giọng khách quan đến lạnh lùng, tác giả như đứng ngoài dùng con mắt tỉnh táo để kể chuyện thế nhưng trong giọng lể của tác giả người ta lại bắt gặp Nam Cao trong nhân vật, như để thấu hiểu cảm thông cho chính nhân vật trữ tình. Có sự chuyển hóa tự nhiên giữa hai giọng điệu này “Ấy là lúc hắn lò dò về đến sân. Hắn đang đi bỗng giật mình. Một con chó đang thùi thùi trong bụi dong ở đấu sân nhảy choàng ra. Một tí nữa là nó đớp vào chân hắn. Hắn nhảy cẫn lên một cái và hắn sực nhớ ra rằng Nhà hắn có một con chó vện , con chó vện ấy hay trong gà hóa cuốc, nên lắm lúc chực đớp cả chân người…Hắn gật đầu luôn mấy cái vì sung sướng nghĩ ra điều ấy. Chao ôi! Chính cái đói đã đẩy con người vào cái không còn sĩ diện. Cái ăn sao mà lớn lao, mà to tát quá”. Nhà văn vẫn gọi nhân vật đằng sau những chữ “hắn”, “thị”, “y” như không hề có chút thiện cảm nào với nhân vật của mình. Thế nhưng nếu không tin yêu thì làm sao giọng văn lại như bùng nổ, như tha thiết khát khao cháy bỏng đến vậy “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!”. Gọi “hắn” nhưng trong cái tiếng ấy ta thấy tác giả đã khéo léo gọi ra trong lòng độc giả cả phần lí trì lẫn phần tình trong cái giọng thản nhiên như khi miêu tả cái chết của anh Đĩ Chuột trong “Nghèo”, người đọc vẫn có thể nhận ra cái giọng xót thương đối với một kiếp người “Anh Đĩ Chuột rít hai hàm răng lại, hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bẫy, sau cùng nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi thừng lũng lẳng”. Nhà văn phẫn uất chọn một cái chết đau khổ, đến khi chết vẫn không thể nhẹ nhàng thanh thản. Cái phẫn uất ấy xuất phát từ chính tấm lòng yêu thương cùa tác giả đối với nhân vật cảu cái nụ cười thản nhiên vui vẻ trước cảnh nghèo khổ- mâm cơm tết “cơm trắng, cá ngon, giò đây mâm, bành chưng rền lắm” cả nhà ngồi lặng im, Nam Cao cảm thấy như uất nghẹn, cái nghẹn đầy ứ của chính ông Đồ. Ông Đồ cứ nghẹn mãi, đôi mắt ông ầng ậc nước mắt. Uất quá, ác quá mà không thể nói ra đã khiến cho người đọc phải thấm thía lâu dài, phải suy nghĩ bằng chính giọng điệu thản nhiên đến lạ cái giọng mỉa mai châm biếm trong “Những truyện không muốn viết”, người đọc dễ tinh ý nhận ra thái độ nghiêm túc, tin tưởng vào phần tốt đẹp của con người. Viết chuyện “buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn hay con lợn, nhưng biết dâu đấy? …Tôi sợ có người lại nhận mình là buồng cau, cây chuối, cục đất. buổi hoàng hôn hay con lợn để mà không bằng lòng. Bởi thế, tuy chẳng muốn, tôi đành lại lấy tôi ra để viết cho yên chuyện”. Mọi diễn biến oay quanh trục, một giọng điệu thản nhiên nhưng lại luôn tin tưởng vào những giá trị thực sự của những sự việc nhỏ nhất và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống. Tóm lại, Nam Cao đã viết bằng một chất giọng đối nghịch, bề ngoài lạnh lùng, bên trong trữ tình, xuất phát từ lối văn kể chuyện “nghiêm nghị và hài hước, trân trọng năng niu, và nhạo, đay mỉa”. Qua đó cho thấy một tấm lòng nhân đạo cao cả luôn suy tư về cuộc đời và trân trọng tin yêu nhân vật của mở rộng Điểm khác về phong cách nghệ thuật của Nam Cao so với các nhà văn cùng thời. Cần tìm ra những nhà văn tiêu biểu cùng thời với Nam Cao để so sánh. Ta có thể kể đến các nhà văn thuộc lãng mạn hoặc hiện thực, nhưng khó nhất vẫn là khi so sánh với các nhà văn cùng viết về hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố... Dựa vào 4 biểu hiện chính tạo nên phong cách sáng tác của một nhà văn để đưa ra những điểm so sánh. Điểm giống nhau của các tác giả cùng thời là cùng nhìn thấy và bất mãn trước hiện thực xã hội, nhưng cách phản ánh vào tác phẩm lại hoàn toàn khác nhau. - Trong cách nhìn cuộc sống, cùng là nhà văn hiện thực trước cách mạng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng Nam Cao quan tâm nhiều về nỗi khổ đến mức bi kịch của người trí thức. Nam Cao cũng cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa của nỗi khổ của họ và lên tiếng đánh động xã hội. “Người nọ, người kia không đáng để ta khinh ghét. Cái đáng nguyền rủa là cái xã hội kia. Nó đã tạo ra những con người tham lam và ích kỷ.” Sống mòn. Cái “hơn người” của Nam Cao là luôn băn khoăn về nhân phẩm của con người và ý thức báo động con người hãy giữ lấy nhân phẩm của mình trước những cái nhỏ mọn. Đó chính là chiều sâu của cái tâm nhà văn, nó định hướng cách nhìn đời và nhìn người của tác giả. - Trong giọng điệu, người ta hay nói giọng trào phúng của Vũ Trọng Phụng, giọng triết lý của Nam Cao. Ngay ở Nam Cao cũng có giọng trào phúng, nhưng đã có người chỉ ra rất cụ thể như sau “So với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thì Nam Cao có nhiều điểm khác biệt. Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan là kiểu pha chút hài hước, Vũ Trọng Phụng là tiếng cười châm biếm, hướng ngoại, còn tiếng cười của Nam Cao là tiếng cười hướng nội, có chút cay đắng.” giọng văn NC vừa tỉnh táo, sắc lạnh vừa nặng trĩu suy tư và đằm thắm thương yêu. Hai giọng văn đối lập nhau cứ chuyển hoá qua lại, tạo nên những trang viết thú vị, hấp dẫn. - Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Tài hoa và uyên bác là phong cách của Nguyễn Tuân trong việc vận dụng ngôn ngữ, ở lĩnh vực này thì Vũ Trọng Phụng để lại ấn tượng ở ngôn ngữ nhân vật đạt mức độ cá tính hóa cao nhất, Nam Cao đa phần là ở việc khắc họa tâm lí nhân vật qua giọng điệu, cử chỉ. Ngòi bút của ông có thể thâm nhập vào những quá trình tâm lý phức tạp, những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn con người; từ đó dựng lên được những nhân vật tư tưởng vừa có tầm khái quát lớn vừa có cá tính độc đáo. Ngôn ngữ của NC hết sức tự nhiên, sinh động, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng. Trong sáng tác của NC có sự chuyển hóa giữa ngôn ngữ người kể chuyện với ngôn ngữ nhân vật góp phần đắc lực vào việc miêu tả tâm lí nhân vật. - Phạm vi đề tài Nam Cao tập trung vào 2 đề tài chính là viết về người nông dân và tri thức tiểu tư sản. Đề tài hẹp nhưng ý tứ rộng. Nam Cao không chủ ý phản ánh những vấn đề, những hiện thực lớn lao của xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945. Nhà văn cũng chọn những hiện tượng tưởng như nhỏ nhặt đời thường của hai đối tượng để tạo dựng câu. chuyện. Nhưng triết lý về đời sống qua các “tiểu tiết” trong văn xuôi Nam Cao quả là không nhỏ. Nếu như với Ngô Tất Tố, nhà văn nổi tiếng viết về xung đột giai cấp gay gắt và phản ảnh bức tranh nông thôn toàn cảnh thì Nam Cao ít hướng đến phạm vi miêu tả rộng như thế. “Ông đã khai thác được cái chiều sâu, cái mạnh nước ngầm ẩn chứa bên trong và nâng lên một tầm khái quát cao hơn. Ở truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta thường thấy hai tầng ý nghĩa Một tầng ý nghĩa gắn liền với những tình tiết, sự việc và câu chuyện mà nhà văn muốn trần thuật lại và tầng ý nghĩa thứ hai là những đúc kết có tính chất triết lý khái quát”. Phan Cự Đệ Chúng ta rất may mắn có được những cây bút văn học như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Vũ Trọng Phụng . càng vui mừng sự xuất hiện của cây bút văn xuôi Nam Cao. Đời sống và đời văn không dài, nhưng tác giả đã đóng dấu ấn phong cách nghệ thuật trên từng trang viết. Nổi bật trong phong cách sáng tác của NC Ngôn ngữ trần thuật đa giọng điệu, ngôn ngữ rất đời nhưng cũng rất văn. Đây là cây bút tài hoa trong việc biểu đạt ngôn ngữ nhân vật gần với lời ăn tiếng nói ngoài đời của đối tượng, từ đó khắc họa tính cách nhân vật. Nếu như nhân vật văn xuôi của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa chủ yếu là nhân vật hành động, nhân vật tính cách, thì đến Nam Cao đã sáng tạo ra nhân vật tự ý thức. Nhà văn đã thể hiện nhu cầu của con người hiện đại tìm hiểu mọi ngóc ngách bên trong tâm hồn con người.... Xem thêm bài viết trong mục Lí luận văn học Văn học – nghệ thuật ngôn từ Nguyễn Bính - người giữ hồn quê Giá trị xã hội và ý nghĩa của văn học Giá trị hiện thực của tác phẩm văn học Hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật Chủ đề văn học là gì? Các chủ đề văn học phổ biếnSưu tầm, tổng hợp
Phong cách học là một nhánh của ngôn ngữ học ứng dụng liên quan đến việc nghiên cứu phong cách trong văn bản, đặc biệt, nhưng không riêng, trong các tác phẩm văn học. Còn được gọi là ngôn ngữ học văn học, văn phong tập trung vào các số liệu, hình vẽ và các phương tiện tu từ khác được sử dụng để cung cấp sự đa dạng và khác biệt cho bài viết của ai đó. Đó là phân tích ngôn ngữ cộng với phê bình văn học. Theo Katie Wales trong " A Dictionary of Stylistics ," mục tiêu của "hầu hết các phong cách văn bản không chỉ đơn giản là để mô tả các đặc điểm chính thức của văn bản vì lợi ích của chúng, mà để thể hiện ý nghĩa chức năng của chúng đối với việc giải thích văn bản; hoặc để liên hệ các hiệu ứng văn học với 'nguyên nhân' ngôn ngữ nơi chúng được cảm nhận có liên quan. " Nghiên cứu kỹ văn bản sẽ giúp khám phá các lớp ý nghĩa sâu sắc hơn chỉ là cốt truyện cơ bản, diễn ra ở cấp độ bề mặt. Các yếu tố của phong cách trong văn học Các yếu tố của phong cách được nghiên cứu trong các tác phẩm văn học là những gì được thảo luận trong bất kỳ văn học hoặc lớp học viết nào, chẳng hạn như Yếu tố ảnh lớn Sự phát triển của nhân vật Cách một nhân vật thay đổi trong suốt câu chuyện Đối thoại Lời thoại hoặc suy nghĩ nội tâm Dự báo Các gợi ý đã giảm về những gì sẽ xảy ra sau đó Hình thức Cho dù một cái gì đó là thơ, văn xuôi, kịch, truyện ngắn, sonnet, Hình ảnh Bộ cảnh hoặc các mục được hiển thị với các từ mô tả Trớ trêu Một sự kiện xảy ra trái ngược với những gì mong đợi Juxtaposition Đặt hai yếu tố lại với nhau để so sánh hoặc đối chiếu chúng Tâm trạng Không khí làm việc, thái độ của người kể chuyện Nhịp độ Bài tường thuật diễn ra nhanh như thế nào Point of view Góc nhìn của người kể chuyện; ngôi thứ nhất tôi hoặc ngôi thứ ba anh ấy hoặc cô ấy Cấu trúc Cách kể một câu chuyện phần mở đầu, hành động, cao trào, đoạn kết hoặc cách tổ chức một phần phần mở đầu, phần chính, phần kết so với phong cách báo chí hình tháp ngược Chủ nghĩa tượng trưng Sử dụng một yếu tố của câu chuyện để đại diện cho một thứ khác Chủ đề Một thông điệp được truyền tải hoặc thể hiện trong một tác phẩm; chủ đề trọng tâm hoặc ý tưởng lớn của nó Giọng điệu Thái độ của người viết đối với chủ đề hoặc cách thức lựa chọn từ vựng và trình bày thông tin, chẳng hạn như thân mật hoặc trang trọng Yếu tố từng dòng Alliteration Sự lặp lại gần nhau của các phụ âm, được sử dụng để tạo hiệu ứng Assonance Sự lặp lại gần đúng của các nguyên âm, được sử dụng để tạo hiệu ứng Thông tục Các từ không chính thức, chẳng hạn như tiếng lóng và thuật ngữ khu vực Từ điển Tính đúng đắn của ngữ pháp tổng thể ảnh lớn hoặc cách nói của các nhân vật, chẳng hạn như trọng âm hoặc ngữ pháp kém Biệt ngữ Thuật ngữ dành riêng cho một trường nhất định Ẩn dụ Một phương tiện để so sánh hai yếu tố Cũng có thể là một bức tranh lớn nếu toàn bộ một câu chuyện hoặc một cảnh được bố trí để thể hiện sự song song với một thứ khác Lặp lại Sử dụng các từ hoặc cụm từ giống nhau trong một khoảng thời gian ngắn để nhấn mạnh Vần Khi các âm giống nhau xuất hiện trong hai từ trở lên Nhịp điệu có tính nhạc cho bài viết, chẳng hạn như bằng cách sử dụng các âm tiết có trọng âm và không nhấn trong một dòng thơ hoặc nhiều câu hoặc sự lặp lại trong một đoạn văn Sự đa dạng của câu Sự thay đổi về cấu trúc và độ dài của các câu liên tiếp Cú pháp Sự sắp xếp các từ trong một câu Các yếu tố của phong cách là đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm viết, và phong cách là nghiên cứu của họ. Cách một tác giả sử dụng chúng là điều làm cho tác phẩm của một nhà văn khác biệt với tác phẩm khác, từ Henry James đến Mark Twain đến Virginia Woolf. Cách sử dụng các yếu tố của một tác giả tạo nên giọng văn riêng biệt của họ. Tại sao việc học Văn lại hữu ích Giống như một vận động viên ném bóng chày nghiên cứu cách cầm và ném một loại sân theo một cách nhất định, để làm cho bóng đi đến một vị trí nhất định và tạo ra một kế hoạch trò chơi dựa trên một đội hình gồm các cầu thủ cụ thể, việc nghiên cứu văn bản và văn học sẽ giúp mọi người để học cách cải thiện khả năng viết và do đó là kỹ năng giao tiếp cũng như học cách đồng cảm và tình trạng con người. Bằng cách bị cuốn vào suy nghĩ và hành động của nhân vật trong một cuốn sách, câu chuyện hoặc bài thơ, mọi người trải nghiệm quan điểm của người kể chuyện đó và có thể rút ra kiến thức và những cảm xúc đó khi tương tác với những người khác trong cuộc sống thực, những người có thể có những hành động hoặc quá trình suy nghĩ tương tự . Nhà phong cách Theo nhiều cách, phong cách học là một nghiên cứu liên ngành về cách diễn giải văn bản, sử dụng cả khả năng hiểu ngôn ngữ và hiểu biết về các động lực xã hội. Phân tích văn bản của một nhà phong cách học bị ảnh hưởng bởi lý luận tu từ và lịch sử. Michael Burke mô tả lĩnh vực này trong " The Routledge Handbook of Stylistics " là một bài phê bình diễn ngôn theo kinh nghiệm hoặc pháp y, trong đó nhà tạo mẫu là "một người với kiến thức chi tiết của mình về hoạt động của hình thái học, âm vị học, từ vựng, cú pháp, ngữ nghĩa, và các mô hình diễn ngôn và thực dụng khác nhau, đi tìm kiếm bằng chứng dựa trên ngôn ngữ để hỗ trợ hoặc thực sự thách thức các diễn giải chủ quan và đánh giá của các nhà phê bình và nhà bình luận văn hóa khác nhau. " Burke vẽ các nhà văn phong cách, sau đó, như một kiểu nhân vật Sherlock Holmes, người có chuyên môn về ngữ pháp và hùng biện, đồng thời yêu thích văn học và các văn bản sáng tạo khác, chọn ra các chi tiết về cách họ vận hành từng mảnh — quan sát phong cách khi nó cung cấp ý nghĩa, như nó thông báo sự hiểu biết. Có nhiều ngành phụ chồng chéo khác nhau về phong cách và một người nghiên cứu bất kỳ lĩnh vực nào trong số này được gọi là chuyên gia phong cách Phong cách văn học Nghiên cứu các hình thức, chẳng hạn như thơ, kịch và văn xuôi Phong cách diễn giải Cách các yếu tố ngôn ngữ hoạt động để tạo ra tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa Phong cách đánh giá Phong cách của một tác giả hoạt động như thế nào — hoặc không — trong tác phẩm Phong cách tập thể Nghiên cứu tần suất xuất hiện của các yếu tố khác nhau trong một văn bản, chẳng hạn như để xác định tính xác thực của một bản thảo Phong cách diễn đạt Cách ngôn ngữ được sử dụng tạo ra ý nghĩa, chẳng hạn như nghiên cứu sự song song, đồng âm, chuyển âm và vần Phong cách nữ quyền Những điểm tương đồng giữa chữ viết của phụ nữ, cách viết chữ và cách đọc chữ viết của phụ nữ khác với chữ viết của nam giới Phong cách tính toán Sử dụng máy tính để phân tích văn bản và xác định phong cách của nhà văn Phong cách nhận thức Nghiên cứu về những gì xảy ra trong tâm trí khi nó gặp ngôn ngữ Hiểu biết hiện đại về hùng biện Từ thời Hy Lạp cổ đại và các triết gia như Aristotle, nghiên cứu về thuật hùng biện là một phần quan trọng trong giao tiếp và tiến hóa của con người. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi tác giả Peter Barry sử dụng thuật hùng biện để định nghĩa phong cách là "phiên bản hiện đại của kỷ luật cổ xưa được gọi là hùng biện," trong cuốn sách " Lý thuyết sơ khai " của ông. Barry tiếp tục nói rằng thuật hùng biện dạy "sinh viên của nó cách cấu trúc một lập luận, cách sử dụng hiệu quả các số liệu của bài phát biểu, và nói chung là cách tạo mẫu và thay đổi một bài phát biểu hoặc một đoạn văn để tạo ra tác động tối đa." Ông nói rằng sự phân tích của các nhà tạo mẫu về những phẩm chất tương tự này - hay đúng hơn là cách chúng được sử dụng - do đó, sẽ dẫn đến việc phong cách học là một cách giải thích hiện đại của nghiên cứu cổ đại. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng cách đọc khác với cách đọc gần đơn giản ở những điểm sau "1. Đọc gần nhấn mạnh sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ của cộng đồng lời nói chung. ... Ngược lại, văn phong nhấn mạnh mối liên hệ giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ hàng ngày. "2. Phong cách học sử dụng các thuật ngữ và khái niệm kỹ thuật chuyên ngành có nguồn gốc từ khoa học ngôn ngữ học, các thuật ngữ như 'sự chuyển đổi', 'sự phân biệt từ vựng', 'sự sắp xếp' và 'sự gắn kết'. "3. Phong cách học khẳng định tính khách quan khoa học hơn là đọc kỹ, nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều có thể học và áp dụng các phương pháp và quy trình của nó. Chủ nghĩa phong cách đang tranh cãi về tính phổ biến của việc sử dụng ngôn ngữ trong khi việc đọc đóng lại bản lề dựa trên quan sát về việc phong cách và cách sử dụng cụ thể này có thể khác nhau như thế nào và do đó tạo ra một lỗi liên quan đến quy chuẩn. Sau đó, phong cách học là việc theo đuổi việc tìm hiểu các yếu tố chính của phong cách ảnh hưởng đến cách giải thích văn bản của một đối tượng nhất định. Nguồn Wales, Katie. "A Dictionary of Stylistics." Routledge, 1990, New York. Burke, Michael, biên tập viên. "The Routledge Handbook of Stylistics." Routledge, 2014, New York. Barry, Peter. "Lý thuyết Khởi đầu Giới thiệu về Lý thuyết Văn học và Văn hóa." Nhà xuất bản Đại học Manchester, Manchester, New York, 1995.
YOMEDIA Bài học giúp các em nắm được khái niệm quá trình văn học, bước đầu có ý niệm về các trào lưu văn học tiêu biểu. Hiểu được khái niệm phong cách văn học, biết nhận diện những biểu hiện của phong cách văn học. Tóm tắt bài Quá trình văn học a. Khái niệm quá trình văn học Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức XH đặc thù luôn vận động biến chuyển. Diễn tiến của VH như một hệ thống chỉnh thể với sự hình thành tồn tại, thay đổi có mối quan hệ chặt chẽ với thời kỳ lịch sử. Quá trình VH là diễn biến hình thành tồn tại, phát triển, thay đổi của VH qua các thời kỳ lịch sử. b. Những qui luật cơ bản của quá trình văn học Quy luật vh gắn bó với đời sống”Thời đại nào văn học ấy”. Ví dụ CM/8 1945 mở ra trang sử mới của dân tộc đồng thời đánh dấu một thời kì mới trong sự vận động của văn học. Quy luật kế thừa và cách tân Ví dụ VHDG là cội nguồn của VH viết. Phong trào thơ mới1932-1945kế thừa nhiều yếu tố truyền thống của thơ ca cổ điển đồng thời khám phá mới mẻ. Qui luật bảo lưu và tiếp biến Ví dụ Sự giao lưu của VHVN với văn học TQ, Pháp, Nga. Trào lưu văn học Hoạt động nổi bật của quá trình VH là trào lưu VH. Trào lưu VH là một hiện tượng có tính chất lịch sử, ra đời và mất đi trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là một phong trào sáng tác tập hợp những tác giả tác phẩm gần gũi nhau về cảm hứng, tư tưởng tạo thành một dòng rộng lớn có bề thế trong đời sống VH của một dân tộc. Các trào lưu văn học của thế giới VH thời Phục hưng Đặc trưng giải phóng con người, đề cao cá tính, chống lại sự khắc nghiệt của thời kỳ trung cổ. Tiêu biểu Sếch-xpia Anh, Xéc-van-tét Tây Ban Nha. Chủ nghĩa cổ điển Pháp TKXVII Đặc trưng xem văn hóa cổ đại là hình mẫu lý tưởng, đề cao lý trí, sáng tác theo quy luật chặt chẽ. Tiêu biểu Cooc-nây, Mô-li-e Pháp. Chủ nghĩa lãng mạn TKXVIII-XIX Đặc trưng đề cao những nguyên tắc chủ quan, lấy đề tài trong thế giới tưởng tượng của nhà văn, hình tượng nghệ thuật thường có vẻ đẹp khác thường. Tiêu biểu Huy-gô Pháp, Sin-le Đức. Chủ nghĩa hiện thực TKXIX Đặc trưng thiên về nguyên tắc khách quan, thường lấy đề tài từ cuộc sống hiện thực, xây dựng những tính cách điển hình vừa khái quát vừa cụ thể, tình cách phát triển hợp logic cuộc sống. Tiêu biểu Ban-dắc Pháp,Tôn-xtôi Nga. Chủ nghĩa hiện thực XHCN Đặc trưng miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển CM, đề cao vai trò lịch sử của nhân dân. Tiêu biểu M. Gor-ki Nga. Ở Việt Nam xuất hiện các trào lưu VH lãng mạn 1930-1945Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới. VH hiện thực phê phán Ngô Tất Tố, Nam Cao … VH hiện thực XHCN HCM, Tố Hữu, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Phong cách văn học phong cách nghệ thuật a. Khái niệm phong cách văn học Là những nét riêng biệt độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống được thể hiện trong các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm Quá trình VH mang tính lịch sử nên phong cách cũng in đậm dấu ấn dân tộc và thời đại. b. Những biểu hiện của phong cách văn học Giọng điệu riêng biệt, cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá. Sự sáng tạo các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm. Hệ thống phương thức biểu hiện, các thủ pháp kĩ thuật mang dấu ấn riêng. Thống nhất từ cốt lõi nhưng sự triển khai phải đa dạng, đổi mới. Có phẩm chất thẩm mỹ cao, giàu tính nghệ thuật. Bài tập minh họa Ví dụ Trình bày một cách ngắn gọn và đầy đủ những nét chính của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh. Gợi ý làm bài Phong cách Hồ Chí Minh rất hấp dẫn, độc đáo, đa dạng mà rất thống nhất. Ở mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện, ký đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng độc đáo và hấp dẫn. Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, đầy tính chiến đấu và đa dạng về bút pháp. Văn chính luận của Người có sự kết hợp giữa tình và lý, lời văn giàu hình ảnh, giọng điệu khi ôn tồn thân mật như đưa lẽ phải thấm vào lòng người, khi mạnh mẽ, hùng hồn. Truyện, ký của Người được viết với bút pháp rất hiện đại, đầy sáng tạo, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Ái Quốc tuy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay. Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh. Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng thường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ mang màu sắc dân gian hiện đại. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mỹ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ Phương Đông với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại, giản dị mà sâu sắc, lấp lánh chất thép mà chứa chan chất tình, từ tư tưởng đến hành động có sự vận động tự nhiên và nhất quán hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Nhìn chung, văn thơ của Hồ Chí Minh có phong cách hết sức phong phú, đa dạng mà thống nhất. Đó là cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau, nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng của Hồ Chí Minh, “Tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông”. - Mod Ngữ văn 12 HỌC247 ZUNIA9 Bài học cùng chương ZUNIA9 XEM NHANH CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 YOMEDIA
phong cách văn học